TĂNG HUYẾT ÁP KHÁNG TRỊ

  1. Tăng huyết áp được gọi là kháng trị là khi điều trị không đạt được huyết áp mục tiêu bất chấp chế độ dùng 3 thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau, trong đó lý tưởng có 1 thuốc là lợi tiểu, thường ở liều tối đa trong khoảng thời gian thích hợp (ví dụ dùng lợi tiểu Thiazide đòi hỏi thời gian 3-6 tuần). Những người bệnh tăng huyết áp mới được chẩn đoán hay chưa điều trị không được coi là tăng huyết áp kháng trị dù mức huyết áp ban đầu là bao nhiêu.
  2. Cần nhớ thái độ xử trí trước 1 bệnh nhân cao huyết áp kháng trị:
    1. Bước 1: Tìm nguyên nhân THA kháng trị. Theo JNC VII : tỉ lệ THA kháng trị thật sự thì nhỏ và đa số có nguyên nhân, và một khi tìm được nguyên nhân thì hầu như đều có thể điều trị một cách hiệu quả. Những nguyên nhân có thể gặp là :
    • Đo huyết áp không chính xác.
    • Liệu pháp lợi tiểu không phù hợp (thường gặp). Quá tải tuần hoàn, một khi được chẩn đoán, có thể xử trí bằng lợi tiểu phù hợp: lợi tiểu Thiazid được khuyến cáo cho phần lớn bệnh nhân tăng huyết áp, còn lợi tiểu quai được khuyến cáo cho những bệnh nhân giảm độ lọc cầu thận hoặc suy tim.
    • Do thuốc điều trị : cho thuốc không phù hợp, không đủ liều, kết hợp thuốc không hợp lý, sử dụng kháng viêm non-steroid, ức chế COX-2, …
    • Béo phì, uống rượu quá nhiều …
    1. Bước 2: Sau khi phát hiện và điều chỉnh các nguyên nhân trên mà THA kháng trị vẫn còn thì truy tìm nguyên nhân THA thứ phát và điều trị các nguyên nhân này:
    • Bệnh nhu mô thận.
    • Bệnh mạch máu thận.
    • Bệnh tuyến giáp.
    • Tiết mineralocorticoid quá mức.
    • Tiết glucocorticoid quá mức.
    • Hẹp eo động mạch chủ.
    • Hội chứng ngưng thở lúc ngủ.

    Nguyên nhân hiếm gặp:

    • Tăng canci máu do cường tuyến cận giáp.
    • U hệ thần kinh trung ương.
    • Suy phản xạ xoang cảnh (Baroreflex).
    • To đầu chi (Acromegaly).
    • Tình trạng lo âu, rối loạn tâm thần.
    1. Bước 3: Sau khi điều trị nguyên nhân thứ phát mà vẫn thất bại thì nên hội ý với chuyên gia về THA.

 

Hiến máu tình nguyện được tặng dịch vụ khám, chữa bệnh

Đây là quy định mới tại Thông tư 20/2018/TT-BYT sửa đổi Thông tư 05/2017/TT-BYT quy định về giá tối đa và chi phí phục vụ cho việc xác định giá một đơn vị máu toàn phần và chế phẩm máu đạt tiêu chuẩn.

Theo đó:

– Người hiến máu toàn phần tình nguyện có thể lựa chọn nhận quà tặng bằng hiện vật hoặc bằng các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh có giá trị tối thiểu như sau:

+ Một đơn vị máu thể tích 250 ml: 100.000 đồng;

+ Một đơn vị máu thể tích 350 ml: 150.000 đồng;

+ Một đơn vị máu thể tích 450 ml: 180.000 đồng.

– Người hiến tình nguyện gạn tách các thành phần máu có thể lựa chọn nhận quà tặng bằng hiện vật hoặc bằng các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh có giá trị tối thiểu như sau:

+ Một đơn vị chế phẩm có thể tích từ 250 đến 400 ml: 150.000 đồng;

+ Một đơn vị chế phẩm có thể tích từ trên 400 đến 500 ml: 200.000 đồng;

+ Một đơn vị chế phẩm có thể tích từ trên 500 đến 650 ml: 250.000 đồng.

Thông tư 20/2018/TT-BYT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/11/2018.

Mã ATC của thuốc

Từ năm 1981 Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xây dựng hệ thống phân loại thuốc theo hệ thống Giải phẫu – Điều trị – Hoá học, gọi tắt là hệ thống phân loại theo mã ATC (Anatomical – Therapeutic – Chemical Code) cho những thuốc đã được Tổ chức Y tế thế giới công nhận và khuyến khích các nước trên thế giới cùng sử dụng.

Trong hệ thống phân loại theo mã ATC, thuốc được phân loại theo các nhóm khác nhau dựa trên các đặc trưng: Tổ chức cơ thể hoặc hệ thống cơ quan trong đó thuốc có tác dụng, đặc tính điều trị của thuốc và nhóm công thức hoá học của thuốc.
Cấu trúc của hệ thống phân loại ATC thuốc chia thành nhiều nhóm tuỳ theo:
– Các bộ phận cơ thể mà thuốc tác động
– Tác dụng đồng trị của thuốc
– Các đặc trưng hoá học của thuốc.

Mã ATC là một mã số đặt cho từng loại thuốc, được cấu tạo bởi 5 nhóm ký hiệu:
– Nhóm ký hiệu đầu tiên chỉ nhóm giải phẫu, ký hiệu bằng 1 chữ cái chỉ cơ quan trong cơ thể mà thuốc sẽ tác dụng tới, vì vậy gọi là mã giải phẫu. Có 14 nhóm ký hiệu giải phẫu được được ký hiệu bằng 14 chữ cái tiếng Anh.

Mã phân loại thuốc theo nhóm giải phẫu (chữ cái đầu tiên, bậc 1) của hệ ATC:
A. (Alimentarytractandmetabolism): Đường tiêu hoá và chuyển hoá
B. (Bloodandblood-forming organs): Máu và cơ quan tạo máu
C. (Cardiovascular system): Hệ tim mạch
D. (Dermatologicals): Da liễu
G. (Genito urinary system and sex hormones): Hệ sinh dục, tiết niệu và hocmon sinh dục.
H. (Systemic hormonal preparations, excl. sex hormones): Các chế phẩm hocmon tác dụng toàn thân ngoại trừ hocmon sinh dục.
J. (General anti – infectives for systemic use): Kháng khuẩn tác dụng toàn thân 14
L. (Anti-neoplastic and immunomodulating agents): Thuốc chống ung thư và tác nhân điều hoà miễn dịch.
M. (Musculo – skeletal system): Hệ cơ xương
N. (Nervous system): Hệ thần kinh
P. (Anti – parasitic products, insecticides and repellents): Thuốc chống ký sinh trùng, côn trùng và ghẻ
R. (Respiratory system): Hệ hô hấp
S. (Sensory organs): Các giác quan
V. (Various): Các thuốc khác

– Nhóm nhóm hai chữ số bắt đầu từ số 01 nhằm để chỉ chi tiết hơn về giải phẫu và định hướng một phần về điều trị. Ví dụ: trong nhóm các thuốc tác động trên hệ thần kinh (N) thì N01 là các thuốc tê mê, N02 là các thuốc giảm đau, hạ nhiệt; N03 là các thuốc chữa động kinh.

– Nhóm ký hiệu thứ ba chỉ nhóm đồng trị cụ thể hơn, ký hiệu bằng 1 chữ cái, bắt đầu bằng chữ A, phân nhóm tác dụng điều trị/dược lý của thuốc. Ví dụ: trong nhóm N01 thì N01A là thuốc gây mê toàn thân, N01B là thuốc gây tê tại chỗ, N02A là các thuốc nhóm opioid, N02B là thuốc thuộc nhóm giảm đau hạ nhiệt, không thuộc nhóm thuốc phiện.

– Nhóm ký hiệu thứ tư chỉ nhóm hoá học và điều trị ký hiệu bằng 1 chữ cái. Là một chữ cái bắt đầu từ A, phân nhóm tác dụng điều trị/dược lý/hoá học của thuốc. Ví dụ: Trong N01A là thuốc gây mê toàn thân, có N01AA là các thuốc gây mê toàn thân thuộc nhóm ether, N01AB là các thuốc gây mê toàn thân thuộc nhóm Halogen.

– Nhóm ký hiệu thứ năm chỉ nhóm hoá học của thuốc ký hiệu bằng 2 số. Là nhóm gồm hai chữ số bắt đầu từ 01, nhằm chỉ tên thuốc cụ thể. Ví dụ: Mã số ATC của paracetamol: N 02 B E 01 Trong đó: N là thuốc tác động lên hệ thần kinh; 02 là thuốc thuộc nhóm giảm đau hạ nhiệt; B là thuốc thuộc nhóm giảm đau hạ nhiệt, không thuộc nhóm thuốc phiện; E là thuốc thuộc nhóm có công thức hoá học nhóm Anilid; 01 là thuốc có tên paracetamol.

Mã số của một thuốc mang tính định hướng về tính điều trị của thuốc. Mã ATC giúp cho các cho cán bộ y tế hiểu một cách khái quát thuốc tác động vào hệ thống cơ quan nào trong cơ thể, tác dụng điều trị và nhóm công thức hoá học của thuốc để định hướng việc sử dụng thuốc trong điều trị đảm bảo hiệu lực của thuốc và tránh nhầm lẫn.

(Trích: Tài liệu Hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý an toàn, Bộ Y tế, 2005)

– Hiện nay Bộ Y tế yêu cầu báo cáo bắt buộc Mã ATC của các thuốc kháng sinh, đối với các thuốc còn lại trong quá trình đấu thầu thuốc, bệnh viện yêu cầu các công ty Dược cung cấp mã ATC vào trong hồ sơ thầu, khi trúng thầu thông tin này được nhập vào hệ thống quản lý Dược kho của bệnh viện để báo cáo kiểm tra bệnh viện khi có yêu cầu.

Đường dẫn tra cứu mã ACT của WHO

Cách phòng ngừa, điều trị bệnh tăng huyết áp hiệu quả

Theo thống kê của Hội Tim mạch học Việt Nam, tăng huyết áp là vấn đề thường gặp nhất trong cộng đồng. Cứ 4 người lớn thì có 1 người bị tăng huyết áp. Hiện tại, Việt nam đang ở mức báo động với hơn 50% dân số bị tăng huyết áp. Một trong những cách phòng ngừa tăng huyết áp là không nên ăn mặn và kiểm tra huyết áp đúng cách, thường xuyên. Đọc tiếp Cách phòng ngừa, điều trị bệnh tăng huyết áp hiệu quả