Đối tác chiến lược

vinhomes gardenia

Đối tác chiến lược

noi that 190

Dẫn lưu và chăm sóc các loại dẫn lưu

In bài này
Chuyên mục: Điều dưỡng

ThS. Nguyễn Trung Nam

1. 1. Lịch sử ống thông, ống dẫn lưu

Thông niệu đạo được thực hiện cho sỏi bàng quang, tắc nghẽn do Tuyến tiền liệt, viêm niệu đạo từ hơn 3000 năm cuối trước công nguyên (TCN). Ống thông niệu đạo sớm nhất làm từ sậy, rơm, và lá cây cuộn lại, được dùng ở Trung Quốc vào khoảng 100 năm TCN. Theo 1 cuốn sách phẫu thuật cổ Ấn Độ (khoảng 1000 năm TCN, Sushruta Samhital, mô tả dùng ống thông bằng vàng, bạc, sắt và gỗ được bôi trơn với ghee (bơ sữa trâu lỏng) để thoát lưu nước tiểu, điều trị hẹp niệu đạo, bơm thuốc, lấy sỏi. Hippocrates (460 - 370 TCN) không đề cập đến dùng ống thông niệu đạo trực tiếp nhưng đã mô tả bệnh sỏi bàng quang.

Avicenna (980 -1037), nhà bác sĩ, nhà khoa học và triết học Ba Tư, đã mô tả xét nghiệm đường tiểu, phát hiện đại thể quyết định chẩn đoán và tiên lượng, ông cũng khuyến cáo không thông tiểu khi bàng quang viêm nhiễm và phải thận trọng khi thực hiện thông tiểu, cần nhẹ nhàng, không dùng lực, cùng với việc dùng pho mát mềm như là chất bôi trơn. Năm 1036, Avicenna đã mô tả ống thông có thể uốn dẻo đầu tiên được làm từ da động vật đã được làm cứng.Ống thông có thể uốn dẻo bằng bạc được sử dụng rộng rãi vì dễ định hình khi uốn cong và được tin là có tác dụng kháng khuẩn, Benjamin Franklin (1972) đã mô tả ống thông bạc có thể uốn dẻo mà ông tự thực hiện trên anh trai của ông, người đang bị sỏi bàng quang.Những ống thông được làm từ rất nhiều vật liệu khác nhau. Nhưng vấn đề lớn của các ống thông là phải có 1 loại dụng cụ vừa có thể uốn dẻo và vừa có đủ độ cứng để có thể đi qua niệu đạo vào bàng quang, điều này được giải quyết bởi Charles Googyear, 1 nhà cơ khí Philadelphia (1839). Cao su thiên nhiên có các khuyết điểm: quá mềm khi ở nhiệt độ cơ thể và quá cứng khi lạnh. Năm 1851, Charles Googyear đã sử dụng lưu huỳnh hóa cao su để giải quyết đặc tính cứng, uốn dẻo và độ chịu đựng của cao su cứng. Năm 1860, Auguste Nélaton (1807-1873) đã giới thiệu 1 ống thông cao su lưu huỳnh hóa có dạng thẳng màu đỏ với 1 lổ bên gần đầu ống.

Joseph Charrière, 1 nhà chế tạo dụng cụ Pháp (1803-1876) đã đưa ra hệ thống kích thước mà được dùng tới ngày nay. Hệ thống này, được biết như French scale, định nghĩa đường kính của mỗi ống thông với đơn vị 1/3 mm. Hay 1 mm đường kính ống là 3 French.Năm 1863, August Mercier (1811-1882) đã giới thiệu ống thông coudé (tiếng Pháp nghĩa là "khuỷu tay" "elbow") bằng thêm vào chỗ uốn cong phần gần đầu ống thông để làm cho ống đi qua dễ dàng nơi gập góc niệu đạo hành và cổ bàng quang.Những giai đoạn phát triển kế tiếp của ống thông đã tạo ra dụng cụ tự cố định cho dẫn lưu liên tục bàng quang. Ban đầu, hầu hết các ông thông lưu được cột cố định ở đầu dương vật và thỉnh thoảng được khâu cố định ở miệng niệu đạo nữ. Năm 1825, Ống thông có bóng bơm đầu tiên được giới thiệu bởi James Guthrie, phẫu thuật viên quân đội người Anh, tuy nhiên phần bóng này chỉ dùng để nong rộng niệu đạo hẹp mà không dùng như 1 chỗ cố định ống thông.Năm 1853, J. E Reybard đã phát minh ống thông có bóng cố định đầu tiên, làm từ sợi vải lanh với 1 bóng nhỏ ở đầu. Năm 1927, Dr. Vincent Oddo nghĩ ra 1 ống thông cố định bằng 1 bóng bơm 5cc, làm từ cao su với 2 đường ống. Tuy nhiên, ống thông này không có ý nghĩa thực hành vì ngay khi tiếp xúc với nước tiểu bóng bơm sẽ bị phân huỷ trong bàng quang.Frederic E. B. Foley (1891-1966), một nhà niệu học từ St. Paul, Minnesota, đã phát minh ra phương pháp mới để tạo ra ống thông có bóng bơm có thể tự cố định đầu tiên, mà bước đầu được biết là "ống thông có túi cầm máu", và được dùng để điều trị chảy máu từ cắt tiền liệt tuyến qua ngã niệu đạo. Tuy nhiên, với chức năng cố định ống thông tốt trong bàng quang, nên ống này đã được dùng để có thể dẫn lưu liên tục bàng quang. Dr. Foley đã trình bày kiểu mẫu sản phản đầu tiên ở hội nghị thường niên của Hiệp hội niệu khoa Mỹ (American Urological Association ) vào năm 1935.

2. 2. Khái niệm và phân loại

2.1. Khái niệm

Ống thông (sonde) là một ống có thể làm bằng nhựa (nhựa (polyvinyle, polyamides, silicone), có thể làm bằng cao su tổng hợp (Synthetic rubber), hoặc cũng có thể làm bằng kim loại. Ống thông có thể hình ống, hình trụ dài, rỗng hoặc đặc, cứng hoặc mềm. Ống thông dùng để đưa vào các đường, các khoang bệnh lý hoặc đưa vào các đường tự nhiên của cơ thể với mục đích chẩn đoán hoặc điều trị. Ống thông thường dùng để nong các đường tự nhiên khi bị hẹp như ống Pedinelli dùng để nong đường mật, ống Bénique dùng để nong đường niệu đạo v v.

Dẫn lưu (Drain) là một thao tác kỹ thuật trên người bệnh. Là phương pháp đặt một ống vào trong cơ thể để đưa các chất dịch, máu, khí ứ đọng trong các khoang hoặc cơ quan trong cơ thể ra ngoài khoang hoặc cơ quan đó. Các chất dịch, khí có thể là sinh lý hoặc bệnh lý. Vd: Dẫn lưu Kehr dùng để dẫn lưu dịch mật ra ngoài, dẫn lưu nước tiểu, dẫn lưu gầm gan, Douglas dùng để dẫn lưu dịch ứ đọng trong ổ bụng sau phẫu thuật ra ngoài vv. Dẫn lưu có thể nằm trọn bên trong cơ thể hoặc có một đầu bên trong cơ thể, còn một đầu bên ngoài cơ thể. Ví dụ: dẫn lưu dịch màng não xuống bàng quang để thải ra ngoài.

Vậy dẫn lưu là danh từ chung để chỉ ra một thao tác kỹ thuật trong nhiều loại phẫu thuật hay thủ thuật trong điều trị.

Dẫn lưu là một kỹ thuật rất quan trọng đặc biệt trong điều trị ngoại khoa. Nó góp phần tích cực trong việc điều trị khỏi bệnh và phòng biến chứng cho bệnh nhân.

Ống dẫn lưu (drainage) chỉ cho dịch, khí chảy một chiều và thường dùng với mục đích loại bỏ dịch, khí ra khỏi cơ thể. Ống thông có thể dẫn lưu dịch nhưng cũng có thể bơm các chất vào cơ thể với mục đích chẩn đoán hoặc điều trị. Ngoài tác dụng cho dịch đi qua ống thông còn có tác dụng nong các đường tự nhiên trong cơ thể khi bị hẹp.

2.1. 2.2. Phân loại dẫn lưu

2.2.1. Phân loại theo tính chất phẫu thuật

Dẫn lưu thụ động (dẫn lưu không hút)

Nguyên tắc hoạt động dựa vào trọng lực của dịch hoặc do mao dẫn. Dẫn lưu thụ động đơn giản chỉ là ống bằng cao su (synthetic rubber), hoặc bằng nhựa (polyvinyle, polyamides, silicone), đôi khi chỉ là gạc thấm hút dịch như ống dẫn lưu Barraya bao gồm: gạc thấm nước phối hợp với chùm ống nhỏ. Hoặc những lá cao su mỏng, lá bằng xen-lu-lô cuốn lại nhiều vòng (dẫn lưu Penrose), hoặc đơn thuần chỉ là gạc (Mèche).

Dẫn lưu chủ động (dẫn lưu có hút)

Nguyên tắc hoạt động dựa vào hệ thống kín, ống dẫn lưu được nối với một chai (lọ) vô trùng đã hút không khí để làm giảm áp suất bên trong, tạo áp lực âm hút liên tục cho hệ thống dẫn lưu. Điển hình là dẫn lưu Redon: dẫn lưu được làm bằng một ống Polyvinyle nối với một bình rỗng đã hút hết không khí tạo áp lực âm. Hay dẫn lưu khoang màng phổi có hỗ trợ máy hút liên tục.

Dẫn lưu chuyên biệt

Dẫn lưu Kehr được làm từ cao su có hình chữ T với hai ngành bên ngắn được đặt vào trong đường mật, ngành dài còn lại đưa ra ngoài thành bụng. Dẫn lưu Kehr dùng để dẫn lưu mật tạm thời ra ngoài theo nguyên tắc Xi-phông (nước, dịch trào từ nơi cao sang nơi thấp).

Dẫn lưu khoang màng phổi được làm bằng nhựa có tráng silicon. Có nhiều loại khác nhau: ống Mathey đầu ống gập góc, ống Jolie đầu tròn có nòng kim loại bên trong để xuyên qua thành ngực.

Các ống dẫn lưu đường tiết niệu có nhiều tên khác nhau như Malecot, Pezzer, Foley

2.2.2 Phân loại theo đường đi của dịch

- Dẫn lưu ra ngoài: dịch dẫn lưu chảy hoàn toàn ra ngoài.

- Dẫn lưu vào trong: dịch dẫn lưu vẫn trong cơ thể như dẫn lưu não thất - ổ bụng.

-  Hỗn hợp: một phần dịch được dẫn lưu ra ngoài, một phần dịch vẫn chảy trong cơ thể theo đường sinh lý. Ví dụ dẫn lưu Kehr.

2.2.3 Phân loại dẫn lưu theo vùng phẫu thuật.

- Dẫn lưu lồng ngực

+   Dẫn lưu khoang màng phổi(dẫn lưu khí màng phổi, dẫn lưu dịch màng phổi).

+   Dẫn lưu màng tim(dẫn lưu dịch màng tim)

+   Dẫn lưu trung thất(trường hợp thủng thực quản)

- Dẫn lưu khoang phúc mạc (dẫn lưu ổ bụng)

+   Dẫn lưu Kehr hoặc Vocleker

+   Dẫn lưu túi mật

+   Dẫn lưu ổ tuỵ.

+   Dẫn lưu ổ bụng(hậu cung mạc nối, gầm gan, Douglas)

+   Dẫn lưu hổng tràng, hồi tràng

+   Dẫn lưu dưới cơ hoành

+   Dẫn lưu dịch màng bụng.

- Dẫn lưu đi qua hốc tự nhiên

+   Sonde dạ dày

+   Sonde tiểu

+   Sonde hậu môn

- Dẫn lưu tại các hố mổ (tại vị trí mổ)

+   Dẫn lưu hố thận, dẫn lưu bể thận.

+   Dẫn lưu bàng quang trên xương mu(dẫn lưu bàng quang ra da)

+   Dẫn lưu khoang Retzius

+   Dẫn lưu sọ não(trong phẫu thuật sọ não)

+   Dẫn lưu cánh tay, cẳng tay(trong phẫu thuật kết hợp xương cánh tay,cẳng tay)

+   Dẫn lưu cẳng chân, đùi(trong phẫu thuật kết hợp xương cẳng chân, xương đùi)

+   Các dẫn lưu tại các ổ Abcès: Dẫn lưu Abcès gan,Abcès vùng mông, Abcès vú

2.2. 2.3 Các loại ống thông, ống dẫn lưu

Hiện nay chúng ta thường sử dụng một số loại ống dẫn lưu thông thường sau:

-  Ống có nhiều lổ đục bên (ống levin)   - Ống Nelaton

- Ống Malecot                                      - Ống Bequile

- Ống Pezzer                                        - Catheter

- Ống Foley                                          - Ống Redon

- Ống JJ                                               - Ống Pedinelli (nong đường mật)

- Penrose                                             - Double

- Ống Kehr                                           - Ống tự tạo (dùng dây chuyền dịch)

- Ống Monod (dẫn lưu màng phổi)           - Ống Jolly (dẫn lưu màng phổi)

Ống dẫn lưu có thể bằng chất dẽo(polyme), bằng nhựa (plastic), bằng cao su, bằng thuỷ tinh, bằng kim loại, bằng gạc(các mèche).Lưu ý: Mèche cũng có thể xem là dẫn lưu.

Ngoài ra chúng ta có thể biết thêm hai loại dẫn lưu nữa đó là:sonde Bénique(dùng để nong niệu đạo trong trường hợp chít hẹp niệu đạo).

Sonde Guyon(trường hợp trong bàng quang có máu cục)

Ngày nay, với sự tiến bộ của y khoa kỹ thuật cao, nhiều dẫn lưu được đặt bên trong cơ thể người đi từ cơ quan này đến cơ quan khác như dẫn lưu đặt từ hộp sọ đến bàng quang trong trường hợp tăng tiết dịch. Hay những dẫn lưu đặt trong từng cơ quan bộ phận như dẫn lưu JJ đặt trong lòng niệu quản, các ống Stent trong trường hợp nong vành v v.

Một số hình ảnh minh họa ống thông, ống dẫn lưu

1

2

3

Ống redon                                         Ống Kehr

Ống Joly                                            Ống Foley

Ống Malecot                                       Ống nelaton

2.3. 2.4 Tiêu chuẩn ống dẫn lưu

- Có độ đàn hồi tốt, có các lổ rãnh thông tốt

- Không bị xẹp khi đặt vào vết thương, không gây ứ tắc dịch do dẫn lưu

- Không gây kích thích tại chổ do đặt dẫn lưu.

2.5. Kích thước ống thông, ống dẫn lưu

4

Nói đến kích thước ống thông, ống dẫn lưu là nói đến đường kính của ống. Đơn vị đo đường kính của ống là Fr/Ch. Đơn vị này là do một nhà chế tạo dụng cụ người Pháp Joseph Charrière đưa ra. Với 1mm = 3Fr/Ch.

3. 3. Tác dụng của ống dẫn lưu

Theo dõi dịch (màu sắc, tính chất, số lượng) phục vụ cho chẩn đoán và điều trị.

4. 4. Chỉ định đặt dẫn lưu

4.1. 4.1. Một số trường hợp sau phẫu thuật ổ bụng

Sau phẫu thuật ổ bụng nếu phẫu thuật viên tiên lượng sẽ có máu, dịch ứ đọng trong ổ bụng sau mổ thì phẫu thuật viên sẽ đặt dẫn lưu ổ bụng tại các vùng thấp nhất trong ổ bụng. Các dẫn lưu thường đặt là dẫn lưu gầm gan, dẫn lưu Douglas. Ví dụ: sau mổ sỏi mật, sau mổ ruột thừa viêm vở mủ, sau mổ thủng dạ dày vv.

4.2. 4.2. Sau phẫu thuật khâu nối tạng rỗng

Một số trường hợp khâu nối tạng rỗng mà miệng nối không an toàn vì kích thước khác nhau, máu dẫn đến nuôi dưỡng kém, nhiễm trùng, bệnh nhân suy dinh dưỡng. Ví dụ: dẫn lưu tá tràng, dẫn lưu hổng tràng, dẫn lưu hồi tràng.

4.3. 4.3. Sau phẫu thuật một số cơ quan có nguy có chảy máu sau mổ

Một số cơ quan sau phẫu thuật có nguy cơ chảy máu sau mổ như thận, phẫu thuật u xơ tiền liệt tuyến vv. Thì phẫu thuật viên sẽ đặt dẫn lưu tại vùng thấp nhất có nguy cơ đọng dịch sau mổ cơ quan đó. Ví dụ: dẫn lưu hố thận, dẫn lưu khoang Retzius vv.

4.4. 4.4. Một số trường hợp sau phẫu thuật chấn thương

Phẫu thuật viên tiên lượng có nguy cơ ứ đọng dịch, máu sau mổ thì chỉ định đặt dẫn lưu tại vị trí mổ. Ví dụ: dẫn lưu xương đùi, dẫn lưu xương cẳng chân, dẫn lưu sọ não vv.

Các trường hợp tràng dịch, khí (màng phổi, màng tim, ổ bụng)

Các trường hợp Abcès, chín mé

Những trường hợp có nguy cơ bị rò rỉ hoặc rò rỉ mà không thể nhận định được trong lúc mổ.

Các trường hợp bệnh nhân không thể đào thải được dịch ra ngoài hoặc cần theo dõi dịch trong một thời gian. Ví dụ: sonde tiểu lưu, sonde dạ dày

5. 5. Phương pháp đặt dẫn lưu

- Đặt dẫn lưu hở (ví dụ: Sonde dạ dày, sonde tiểu, dẫn lưu ổ bụng vv)

- Đặt dẫn lưu kín (duy nhất dùng trong dẫn lưu màng phổi, màng tim)

6. 6. Biến chứng của dẫn lưu

Gây dính các tạng quanh ống, nhất là các ống dẫn lưu bằng cao su. Do đó có thể gây tắc ruột do dính ruột vào chổ đặt dẫn lưu.

Ống dẫn lưu cứng có thể gây tổn thương cho cơ quan nội tạng nơi tiếp xúc.

Nhiễm trùng tại chổ đặt dẫn lưu hoặc nhiễm trùng ngược dòng khi đặt dẫn lưu lâu và chăm sóc không tốt.

Chảy máu khi rạch da đặt ống dẫn lưu.Lòi phủ tạng hay mạc nối lớn qua chổ dẫn lưu

Tắc ống dẫn lưu: có thể do đường kính ống dẫn lưu nhỏ, không phù hợp với nơi đặt dẫn lưu và dịch dẫn lưu hoặc do cục máu đông, hoặc các cặn bả nhiễm trùng.Điều này dẫn đến dẫn lưu mất tác dụng.

Đức ống dẫn lưu do thao tác rút không đúng kỹ thuật hoặc do lỗi đặt dẫn lưu, hoặc cũng có thể do dẫn lưu để quá lâu làm giảm sức bền của dẫn lưu.

7. 7. Chăm sóc chung các ống dẫn lưu

7.1. 7.1. Nguyên tắc

- Ống dẫn lưu phải được cố định sao cho không tụt ra ngoài hoặc vào trong.

- Hệ thống dẫn lưu phải đảm bảo kín, vô khuẩn, một chiều.

- Đảm bảo dẫn lưu lưu thông tốt.

- Không được tự ý kẹp dẫn lưu hoặc bơm rửa dung dịch vào dẫn lưu

- Không được tự ý rút dẫn lưukhi chưa có y lệnh

- Theo dõi màu sắc, tính chất, số lượng dịch chảy qua dẫn lưu tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.

- Dẫn lưu được rút khi nó hết chức năng.

Trước khi rút dẫn lưu phải đảm bảo dẫn lưu không còn cố định bất cứ vật gì với cơ thể người bệnh, dẫn lưu đã được kẹp và không dính.

Chú ý một số dẫn lưu trước khi rút phải thực hiện một số thao tác bắt buộc và phải đảm bảo đủ thời gian (dẫn lưu Kehr, dẫn lưu bể thận, dẫn lưu màng phổi)

Khi đặt hay thay dẫn lưu phải ghi ngày đặt hoặc thay dẫn lưu lên trên ống dẫn lưu.

7.2. 7.2 Nhận định tình trạng dẫn lưu

Tên dẫn lưu.

Dẫn lưu thuộc loại gì?

Dẫn lưu đặt từ cơ quan nội tạng nào ra?

Dẫn lưu đặt bao lâu rồi? (thời gian đặt dẫn lưu)

Dẫn lưu thông hay tắc? (tình trạng lưu thông dịch, khí)

Chân dẫn lưu: Có đỏ không?, có nốt mẩn không?, có phù nề không?, có lở loét không?, có dịch chảy ra không?

Dịch ra qua đẫn lưu như thế nào?(màu sắc, tính chất, số lượng)

Liên hệ với Bác sĩ đặt dẫn lưu xem dẫn lưu đặt với mục đích nào? (theo dõi hay điều trị)

7.3. 7.3 Liệt kê các vấn đề cần chăm sóc

Một số vấn đề có thể có trong chăm sóc ông dẫn lưu đó là:

Tên dẫn lưu(Kehr, bể thận, Douglas vv)thông hay tắt.

Dẫn lưu (còn ngày lưu hay đã hết ngày lưu).

Dẫn lưu (nhiễm trùng, không nhiễm trùng)

Dịch ra (bình thường, bất thường(nhiều, ít, có máu, có mủ)).

Chỉ định của Bác sĩ(rút dẫn lưu,bơm rửa dẫn lưu,thay dẫn lưu).

7.4. 7.4 Lập kế hoạch

Phụ thuộc vào từng vấn đề chăm sóc cụ thể mà có kế hoạch phù hợp:

Nếu dẫn lưu thông tốt, không nhiễm trùng, còn ngày lưu, chưa có chỉ định rút thì lên kế hoạch:chăm sóc dẫn lưu thường qui.

Nếu dẫn lưu tắc hoặc nhiễm trùng hoặc hết ngày lưu hoặc có chỉ định rút hay bơm rửa, thay thì lên kế hoạch tuỳ theo tình trạng bất thường của dẫn lưu mà có can thiệp điều dưỡng phù hợp và hiệu quả.

Ví dụ: + Dẫn lưu tắc thì kế hoạch:Làm thông ống dẫn lưu

+ Dẫn lưu nhiễm trùng:Chăm sóc dẫn lưu nhiễm trùng bao gồm

+ Dẫn lưu hết ngày lưu: Thay dẫn lưu hoặc xin y lệnh rút dẫn lưu

+ Dẫn lưu có chỉ định: Thực hiện chỉ định(rút, bơm rửa, thay)

7.5. 7.5 Thực hiện

-  Chăm sóc dẫn lưu thường qui:

+  Thay băng chân dẫn lưu ngày một lần, thay bao chứa dịch khi đầy.

+  Ghi lại số lượng dịch, màu sắc dịch vào phiếu chăm sóc.

+  Theo dõi sự lưu thông của ống dẫn lưu.

+  Xoay ống, kẹp ống dẫn lưu nếu cần thiết.

+  Kiểm tra xem dẫn lưu có nguy cơ bị tụt, bị gấp, bị kẹp không. Nếu có thì hướng dẫn tư thế cho bệnh nhân sao cho tránh được các nguy cơ trên. Hướng dẫn người nhà theo dõi ống dẫn lưu nếu có các bất thường như bị gập, bị tụt, dịch không chảy v v thì báo ngay cho điều dưỡng.

+  Trong trường hợp kẹp do chỉ định để theo dõi và rút dẫn lưu thì hướng dẫn cho bệnh nhân và người nhà theo dõi các phản ứng của cơ thể khi dẫn lưu kẹp lại như: đau, tức, khó thở v v.

-  Chăm sóc dẫn lưu nhiễm trùng

+ Thay băng chân dẫn lưu bằng dung dịch Betadine. Thay băng khi ướt gạc hoặc thay 2lần/ngày. Có thể chèn gạc có tẩm thuốc hoặc betadine quanh chân dẫn lưu.

+ Thay bao chứa dịch và phải đảm bảo vô khuẩn

+ Bơm rửa khi có chỉ định Bác sĩ hoặc xin y lệnh Bác sĩ.

+ Dung dịch bơm rửa thường dùng NaCl 0.9% ấm, huyết thanh ấm.

+ Thực hiện bơm rửa đúng dung dịch, đúng số lượng dịch bơm rửa, đảm bảo bơm rửa với áp lực nhẹ, vô khuẩn.

+ Thay dẫn lưu khi có chỉ định Bác sĩ.

-  Rút ống dẫn lưu

+ Loại bở yếu tố cố định: gở bỏ băng dính, làm xẹp bong bóng, cắt chỉ nơi chân dẫn lưu (lưu ý không để sót chỉ ở chân dẫn lưu).

+ Xoay ống dẫn lưu.

+ Kẹp ống dẫn lưu và rút từ từ. Nếu dẫn lưu dài thì rút đến đâu kẹp đến đó. Không được rút dẫn lưu khi chưa kẹp lại vì như thế dịch trong ống dẫn lưu sẽ chảy vào trong cơ thể bệnh nhân.

+ Khi rút chú ý lót gạc dưới chổ chân dẫn lưu để đề phòng dịch chảy ra ngay lổ chân dẫn lưu.

+ Sát khuẩn lổ chân dẫn lưu, đắp gạc rồi băng lại.

+ Trường hợp dẫn lưu bị khâu dính vào tạng không rút được thì hẹn bệnh nhân đến rút theo thời gian tiêu của chỉ.

- Với chỉ catgut thường thời gian tiêu thường từ 8 – 15 ngày.

- Với chỉ catgut chế hoá với Chromic thì thời gian tiêu thường > 15 ngày.

7.6. 7.6 Đánh giá

Nếu chăm sóc dẫn lưu tốt đảm bảo các nguyên tắc và kỹ thuật chăm sóc dẫn lưu thì dẫn lưu sẽ không nhiễm trùng, không gây ra các tai biến xấu cho người bệnh.

8. 8 Chăm sóc một số dẫn lưu thường gặp

Dụng cụ chăm sóc dẫn lưu thường là bộ dụng cụ thay băng cắt chỉ vết thương. Một số dẫn lưu có thể có thêm một vài dụng cụ khác tuỳ thuộc vào tình trạng dẫn lưu như: Xi ranh 10, 50ml. Bộ dụng cụ bơm rử dẫn lưu vv.

8.1. 8.1 Chăm sóc sonde dạ dày

Nếu đặt trước mổ trong trường hợp thủng dạ dày, tắc ruột, viêm tuỵ cấp vv thì hút liên tục với áp lực như sau:

Ở người lớn: -40 mmHg.

Trẻ em tuỳ vào lứa tuổi nhưng thường là: -15 đến -20 mmHg

Ở đây liên tục không có nghĩa là phải bật máy hút mãi cho đến khi phẫu thuật. mà trong quá trình hút có khoảng nghỉ ngắn.

Cách đặt sonde dạ dày xem lại kỹ thuật Điều Dưỡng Cơ Bản.

Ống thường đặt là ống Levin.

Nếu sonde dạ dày đặt sau mổ thì thường hút ngắc quãng. Áp lực hút giống trước mổ.

Hút ngắc quãng là hút nhiều lần trong ngày tuỳ vào tình trạng bụng của bệnh nhân. Mỗi lần hút khoảng 5 – 10 phút, mỗi thì hút từ 10 – 15 giây(mục đích tránh biến chứng hút niêm mạc dạ dày).

Thông thường thì sau mổ 24 – 48 giờ ruột có nhu động trở lại và dạ dày hết ứ đọng dịch, bụng hết chướng. Do đó thường hút trong hai ngày đầu.

Thường thì dạ dày tiết ra khoảng 2.5 lít dịch/24 giờ. Nhưng dạ dày cũng có thể tiết ra 5 lít dịch /24 giờ. Bình thường dịch dạ dày có màu xanh rêu.

Phải theo dõi màu sắc, số lượng dịch qua sonde dạ dày để biết được tình trạng vết mổ trong dạ dày

Thời gian lưu sonde dạ dày theo qui định hiện nay là 7 ngày. Nhưng theo ý kiến của một số tác giả không nên lưu 7 ngày mà chỉ lưu tối đa 4 – 5 ngày. Nếu muốn lưu tiếp thì thay sonde và đổi lổ mũi. Như vậy mới có thể phòng được tổn thương, nhiễm trùng niêm mạc đường hô hấp trên. Trên thực tế ít có bệnh nhân lưu sonde dạ dày lâu quá 4 ngày vì:sonde hết chức năng hoặc băng dính không còn dính làm cho sonde tụt ra

Thường thì sonde dạ dày được rút khi bệnh nhân có trung tiện trở lại.

8.2. 8.2 Chăm sóc dẫn lưu Kehr

Dẫn lưu Kehr có hình chữ "T" được đặt trong ống mật chủ để dẫn lưu mật ra ngoài nhằm làm giảm áp lực trong đường mật, tránh nguy cơ vở mũi khâu, không để mật chảy vào ổ bụng.

Dẫn lưu Kehr thường được đặt sau phẫu thuật sỏi đường mật.

Lượng dịch chảy qua dẫn lưu Kehr trong 3 ngày đầu khoảng 300 – 500 ml/24 giờ. Những ngày sau lượng dịch giảm dần nhưng không bao gìơ hết. Dịch mật bình thường có màu vàng xanh, trong.

Trường hợp đặt dẫn lưu Vocleker thì chăm sóc cũng giống như dẫn lưu Kehr. Nhưng chú ý dịch qua dẫn lưu Vocleker thường nhiều hơn dẫn lưu Kehr. Vì dẫn lưu Vocleker được đặt qua cơ Oddi, quađoạn 2 tá tràng ra ngoài.

Trường hợp tắc mật phải mổ cấp cứu nhưng khó vào được ống mật chủ thì có thể dẫn lưu túi mật tạm thời bằng ống Malecot hoặc ống Pezzer. Và cũng theo dõi chăm sóc như dẫn lưu Kehr.

Đầu ống dẫn lưu để trong lọ (túi) sát khuẩn

Không được nâng cao túi dẫn lưu đề phòng dịch mật chảy ngược vào trong.

Khi có chỉ định bơm rửa phải đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn, đúng dung dịch, đúng số lượng.

Nếu có mủ thì bơm rửa dung dịch NaCl 0.9 % và hút sạch mủ.

Nếu có máu thì bơm rửa bằng huyết thanh ấm 40oC.

Nếu sót sỏi thì hút trước sau đó bơm rửa sau.

Thường sau khi đặt 10 – 14 ngày thì rút dẫn lưu Kehr. Nhưng phải đảm bảo:

+ Chụp kiểm tra đường mật thông tốt xuống tá tràng và không còn sót sỏi, giun.

+ Kẹp thử 24 giờ nếu bệnh nhân không đau tức thì rút.(đôi khi phải kẹp ngắt quãng thành nhiều lần thì bệnh nhân mới có thể thích nghi được).

Trường hợp không rút được Kehr thì nên nghĩ là do khâu dính dẫn lưu hoặc dẫn lưu được cố định quá chặc. Trường hợp này nên hẹn bệnh nhân đến rút dẫn lưu theo thời gian tiêu của chỉ.

Chú ý: sau khi rút dẫn lưu Kehr phải đắp gạc thật dày vào lổ chân dẫn lưu rồi băng lại. Vì dịch mật sẽ chảy ra qua lổ chân dẫn lưu trong một vài ngày mới khô.

8.3. 8.3 Chăm sóc dẫn lưu bể thận

Dẫn lưu bể thận thường đặt là ống Pezzer(đôi khi có thể dùng ống Foley). Dẫn lưu được đặt trong bể thận để dẫn nước tiểu hoặc mủ ra ngoài

Dịch chảy qua dẫn lưu bể thận bình thường có màu vàng trong, số lượng thường khoảng 300 – 400 ml/24 giờ.

Đầu ống dẫn lưu để trong lọ (túi) sát khuẩn

Không được nâng cao túi dẫn lưu đề phòng dịch chảy ngược vào trong.

Khi có chỉ định bơm rửa phải đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn, đúng dung dịch, đúng số lượng.

Nếu có mủ thì bơm rửa dung dịch NaCl 0.9 % và hút sạch mủ.

Nếu có máu thì bơm rửa bằng huyết thanh ấm 40oC.

Nếu sót sỏi thì hút trước sau đó bơm rửa sau.

Thường sau khi đặt 10 – 20 ngày thì rút dẫn lưu bể thận. Nhưng phải đảm bảo:

+ Chụp Xquang có bơm thuốc cảng quang để kiểm tra sự lưu thông nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang.

+ Kẹp thử 24 giờ nếu bệnh nhân không đau tức thì rút.(đôi khi phải kẹp ngắt quãng thành nhiều lần thì bệnh nhân mới có thể thích nghi được).

Trường hợp không rút được dẫn lưu thì nên nghĩ là do khâu dính dẫn lưu hoặc dẫn lưu được cố định quá chặc. Trường hợp này nên hẹn bệnh nhân đến rút dẫn lưu theo thời gian tiêu của chỉ.

Chú ý: sau khi rút dẫn lưu bể thận phải đắp gạc thật dày vào lổ chân dẫn lưu rồi băng lại. Vì nước tiểu sẽ chảy ra qua lổ chân dẫn lưu trong một vài ngày mới khô.

Tóm lại chăm sóc dẫn lưu bể thận tương tự giống chăm sóc dẫn lưu Kehr.

8.4. 8.4 Chăm sóc dẫn lưu niệu quản

8.4.1 Thông J và thông JJ

Đó là một loại ống thông bằng nhựa dẻo mềm được đặt vào trong niệu quản khi phẫu thuật hay khinội soi. Nếu ống chỉcó một đầu quăn hình đuôi heo thì đó là thông J-đơn (nay ít thông dụng), nếu ống quăn hai đầu thì đó là thông JJ hay thông J-kép. Hai đầu quăn làm cho ống không bị tụt xuống bàng quang cũng như không bị tụt lên thận, các đầu quăn có thể là một vòng hay hai vòng.

5

Hình 1. Dẫn lưu JJ trong niệu quản

8.4.2 Các trường hợp đặt thông JJ

Sau các phẫu thuật lấy sỏi, các mảnh sỏi nhỏ có thể rơi xuống làm tắc niệu quản gây đau và ứ đọng nước tiểu ở thận gây nhiễm khuẩn, lâu dài có thể làm hư hại thận. Thông JJ giúp dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang, đề phòng hoặc giải quyết được tắc nghẽn của niệu quản.

Đặt thông JJ lâu dài để nong trong điều trị trít hẹp niệu quản.Thông JJ còn được đặt sau các phẫu thuật lấy u của niệu quản,u của thận hay các u quanh niệu quản.

8.4.3 Các khó chịu có thể gặp ở bệnh nhân được đặt thông JJ

Đau buốt vùng hông lưng hay phía trên đùi, đau tăng khi đi tiểu.
- Kích thích bàng quang: cảm giác rát buốt khi tiểu gần xong hoặc đau tức vùng trên xương mu, tiểu nhiều lần, nước tiểu có lẫn máu, cảm giác cộm và căng bàng quang. Cố gắng để tiểu hết và uống đủ nước để cho nước tiểu bớt hồng.

Các khó chịu này thường giảm dần và hết sau vài ngày. Chảy máu đôi khi kéo dài cho đến khi ống thông được lấy ra.

8.4.4 Chăm sóc khi có các dấu hiệu khó chịu do đặt thông JJ

Giảm bớt hoạt động, ngâm trong bồn tắm nước ấm và dùng thuốc giảm đau.

Đi khám ngay hoặc điện thoại báo bác sĩ gấp nếu: các triệu chứng khó chịu tăng dần, sốt cao, đau vùng hông lưng bên có thông JJ, đi tiểu có máu cục hoặc có lẫn máu đỏ tươi, đau nhiều khi đi tiểu, rơi ống thông JJ ra ngoài.

8.4.5 Thời gian lưu thông JJ

Thời gian lưu ống thông thay đổi tùy theo lý do phải đặt thông. Thông thường thông JJ được đặt trong niệu quản từ 2 tuần đến 1 tháng và không để lâu quá 3 tháng. Trường hợp đặc biệt phải để lâu quá 3 tháng, phải dùng thông jj chất liệu silicon và thường xuyên tái khám theo lời khuyên (giấy hẹn) của bác sĩ tiết niệu đặt thông cho bạn. Báo ngay cho bác sĩ biết nếu có bất cứ triệu chứng bất thường nào xảy ra với bạn.

Bệnh nhân được lưu ý tái khám đúng hẹn để được kiểm tra, thay thông JJ mới và rút thông JJ.Trường hợp thông JJ để quá lâu sẽ có thể có nhiều nguy cơ: tạo sỏi xung quanh thông hoặc dọc theo thông JJ, nhiễm khuẩn, tắc niệu quản, suy thận.

8.4.6 Cách rút thông JJ

Dây buộc vào thông JJ được kéo ra nhẹ nhàng bởi bệnh nhân, điều dưỡng viên hay thầy thuốc. Các thông không có dây buộc thì được lấy ra tại cơ sở tiết niệu bằng một máy soi đưa vào bàng quang.Cho bệnh nhân uống 2-3 ly nước ngay sau khi lấy thông. Bệnh nhân có thể đau nhẹ về một bên hay ở bụng dưới, tiểu buốt và nước tiểu có tí máu trong 2-3 ngày đầu sau rút thông.

8.4.7 Dinh dưỡng và sinh hoạt

-  Ăn uống không phải kiêng cữ.

- Uống nhiều nước trên 2 lít/ngày, uống liên tục trong ngày.

- Vận động nhẹ, tránh các vận động quá sức, không khuân vác nặng.

- Hoạt động thể dục thể thao nhẹ nhàng.

8.5. 8.5 Chăm sóc dẫn lưu bàng quang ra da

Ống dẫn lưu bàng quang ra da thường đặt là ống Malecot hoặc Pezzer (đôi khi có thể dùng ống Foley). Đường vào bàng quang bằng cách rạch da trên xương mu.

Bình thường dịch qua dẫn lưu có màu vàng trong, số lượng 1200 – 1500ml/24 giờ

Đầu ống dẫn lưu để trong lọ (túi) sát khuẩn

Không được nâng cao túi dẫn lưu đề phòng dịch chảy ngược vào trong.

Khi có chỉ định bơm rửa phải đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn, đúng dung dịch, đúng số lượng.

Trường hợp bơm rửa bàng quang thì bơm dung dịch NaCl 0.9% vào dẫn lưu bàng quang ra da rồi cho chảy ra ống Foley(dẫn lưu niệu đạo)

Nếu thấy dịch chảy ra có màu đỏ sậm nghĩa là có máu trong bàng quang lúc này nên cho dịch chảy nhanh.

Nếu thấy ống thông bị nghẹt cần vuốt nhẹ để làm nát cục máu đông hoặc dùng bơm tiêm bơm mạnh vào khoảng 20 – 30 ml NaCl. Khi thấy dịch ra trong thì ngưng rửa. Cần so sánh dịch vào và ra để tính lượng máu mất.

Với dẫn lưu bàng quang ra da cần đặc biệt chú ý khâu vệ sinh chân dẫn lưu, sự lưu thông

Bình thường dẫn lưu bàng quang ra da được rút sau khi đặt từ 4 – 5 ngày. Một số trường hợp đặt lâu dài (vĩnh viễn) như u xơ tiền liệt tuyến gây bí tiểu nhưng không thể mổ được vì sức khoẻ người bệnh hoặc vì một lý do nào đó. Thì có thể thay dẫn lưu với thời gian chậm hơn có thể 2 tuần/1ống.

Trong trường hợp mổ u xơ tiền liệt tuyến có biến chứng chảy máu thì dẫn lưu bàng quang ra da rút chậm hơn khoảng 10 – 12 ngày sau mổ.

Sau khi rút dẫn lưu bàng quang ra da nếu chưa có dẫn lưu niệu đạo thì phải đặt dẫn lưu niệu đạo để dẫn lưu nước tiểu.

Chú ý: sau khi rút dẫn lưu bàng quang ra da phải đắp gạc thật dày vào lổ chân dẫn lưu rồi băng lại. Vì nước tiểu sẽ chảy ra qua lổ chân dẫn lưu trong một vài ngày mới khô.

8.6. 8.6 Chăm sóc dẫn lưu niệu đạo

Dẫn lưu niệu đạo thường dùng là sonde Foley 2 nhánh hoặc 3 nhánh đặt vào bàng quang qua đường niệu đạo.

Chú ý kỹ thuật đặt dẫn lưu niệu đạo đặt ở bệnh nhân nam nhớ các thì 12 giờ, 6 giờ. Vì niệu đạo ở bệnh nhân nam có các đoạn gấp khúc. Do đó khi cố định ống dẫn lưu nên cố định ngược lên bẹn bệnh nhân.

Lượng nước bơm vào bong bóng cố định ống nên bơm 10 ml. Trường hợp đặt dẫn lưu niệu đạo để bơm rửa thì đặt ống Foley 3 nhánh và bơm 30 ml nước vào bong bóng. Nhưng sau khi rửa phải giảm thể tích nước trong bong bóng mỗi lần 5 ml/2 giờ cho đến khi trong bong bóng còn lại 10 ml thì không giảm nữa.

Khi có chỉ định bơm rửa thì tiến hành bơm rửa đúng theo chỉ định về dung dịch. (Xem phần bơm rử dẫn lưu Kehr). Chú ý ở đây dẫn lưu có 3 nhánh: 1 nhánh lưu, 1 nhánh nước tiểu chảy ra và 1 nhánh dùng để bơm rửa.

Bình thường dịch dẫn lưu niệu đạo có màu vàng trong, số lượng khoảng 1200 – 1500/24 giờ.

Thời gian rút dẫn lưu niệu đạo thường là 5 ngày kể từ ngày đặt. Nhưng theo một số tác giả thì đối với bệnh nhân nữ nên rút sau khi đặt 4 ngày, đối với bệnh nhân nam rút sau khi đặt 5 ngày. Vì nguy cơ nhiễm trùng ngược dòng ở bệnh nhân nữ cao hơn ở bệnh nhân nam do cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục ngoài.

Nếu phải đặt dẫn lưu niệu đạo lâu ngày thì thay sonde như thời gian rút sonde. Trong quá trình chăm sóc phải kẹp ngắt quãng ống dẫn lưu để tránh biến chứng bàng quang bé.

Khi thay sonde cần lưu ý: Rút sonde cũ ra khoảng 30 phút – 1 giờ sau rồi mới dặt lại sonde mới. Mục đích giúp cho niệu đạo có thời gian hồi phục lại trạng thái ban đầu.

Kẹp ngắt quãng là kẹp ống dẫn lưu lại không cho chảy dịch trong thời gian 2 -3 giờ sau đó mở ra cho dịch chảy. Một số trường hợp có thể kẹp 4 – 5 giờ rồi mới mở dẫn lưu (dẫn lưu Kehr, dẫn lưu bể thận vv).

Khi rút dẫn lưu nhớ phải hút hết nước trong bong bóng (bong bóng hết nước khi: ta nhìn thấy nhánh lưu xẹp lại khi hút nước).

8.7. 8.7 Chăm sóc dẫn lưu hố mổ

Các dẫn lưu sau có thể xem như là dẫn lưu hố mổ: dẫn lưu gầm gan (hố gan), dẫn lưu Douglas, dẫn lưu hố thận, dẫn lưu trung thất, dẫn lưu Khoang Rezzius, dẫn lưu sọ não, dẫn lưu xương đùi, dẫn lưu xương cánh tay, dẫn lưu xương cẳng chân, dẫn lưu xương cẳng tay, dẫn lưu ổ Abcès.

Các dẫn lưu này chỉ đặt được trong lúc mổ và đặt với mục đích dẫn lưu dịch ứ đọng trong lúc mổ làm chưa sạch ra ngoài hoặc phẫu thuật viên tiên lượng sau mổ vẫn còn có khả năng tiết dịch.Các ống thường dùng là ống nhựa có nhiều lổ đục bên.

Bình thường dịch dẫn lưu có màu hồng loãng (màu máu). Trừ trường hợp dẫn lưu ổ Abcès thì dịch có máu mủ.

Số lượng khoảng 30 – 50 ml/ 24 giờ đầu và giảm nhanh trong những ngày sau.

Dẫn lưu thường ráo dịch vào ngày thứ 2 hoặc thứ 3 sau mổ. Do đó dẫn lưu cũng thường được rút vào ngày thứ 2 hoặc thứ 3.

Khi rút dẫn lưu cũng tuân thủ các nguuyên tắc chung khi chăm sóc dẫn lưu. (xem lại mục 6.5 của bài này).

8.8. 8.8 Chăm sóc dẫn lưu khí màng phổi

Dẫn lưu khí màng phổi thường đặt là ống nhựa đầu có một lổ (ống Monod hoặc ống Joly).

Dẫn lưu khí màng phổi thường được đặt ở liên sườn 2 đường giữa đòn.

Khi chăm sóc người bệnh dẫn lưu khí màng phổi nên đặt người bệnh ở tư thế Fowler.

Khi di chuyển người bệnh phải nhẹ nhàng phòng tụt ống dẫn lưu.

Theo dõi sinh hiệu đặc biệt thường xuyên đánh giá tình trạng hô hấp.

Bình thường khi người bệnh thở, cột nước trong đầu ống dẫn lưu tụt khỏi đầu ống và khí thoát ra ngoài. Hiện tượng sủi bột xuất hiện. Nếu khi người bệnh thở mà không thấy hiện tượng sủi bột trong bình dẫn lưu thì dẫn lưu đó không hiệu quả. Có thể người bệnh hết tràn khí hoặc ống bị gập hay người bệnh thở quá yếu. Tuỳ vào nguyên nhân mà ta xử trí, nếu người bệnh thở yếu có thể dùng máy hút trợ giúp bằng cách: Cắm máy hút vào bình dẫn lưu và cho hút liên tục với áp lực -30 đến -40 cmH2O. Hay cho người bệnh thổi bong bóng cũng rất tốt.

Hằng ngày thay băng chân dẫn lưu, quan sát và xử trí khi có nhiễm trùng chân dẫn lưu. Theo dõi dịch trong bình để phát hiện chảy máu.

Dẫn lưu được rút khi hết chức năng (theo y lệnh Bác sĩ). Chú ý khi rút dẫn lưu: Chuẩn bị gạc Vaselin, gạc đắp vết thương sẳn. Sau khi cắt chỉ chân dẫn lưu xong phải kẹp chặt dẫn lưu lại. Một tay rút dẫn lưu một tay cầm gạc đắp nhanh vào chân dẫn lưu và băng kỹ lại. Có trường hợp phẫu thuật viên chuẩn bị sẳn một mối chỉ khi đặt dẫn lưu. Nênkhi rút dẫn lưu thì phải thắt mối chỉ đó lại.

8.9. 8.9 Chăm sóc dẫn lưu dịch màng phổi

Tương tự như chăm sóc dẫn lưu khí màng phổi. Có điều cần quan tâm theo dõi dịch dẫn lưu về màu sắc, số lượng. Nếu cần mang đi xét nghiệm dịch dẫn lưu.

Điểm đặt dẫn lưu dịch màng phổi thường là khoang liên sườn 7-8 đường nách giữa.

Khi người bệnh hít thở thì dịch trong dẫn lưu chảy ra chứ không sủi bột khí như dẫn lưu khí màng phổi.

Tin bài cùng chuyên mục