Đối tác chiến lược

vinhomes gardenia

Đối tác chiến lược

noi that 190

Hiệu ứng giả dược ( Placebo)

In bài này
Chuyên mục: Dược

clip_image002Lý thú trong "nghệ thuật" dùng thuốc chữa bệnh là giả dược (Placebo), hay còn gọi là thuốc vờ - thuốc giống y như thật nhưng không có tác dụng dược lý- chỉ tạo ra hiệu ứng Placebo đôi khi rất thú vị.

 

Placebo thường được dùng trong nghiên cứu Y học, thử thuốc lâm sàng có đối chứng (controlled studies) hoặc dùng để chữa một số triệu chứng đặc biệt, và cũng có khi dùng để thoả mãn đòi hỏi của người bệnh ham uống thuốc, chích thuốc dù bác sĩ thấy không cần thiết. Placebo có đủ loại, thuốc uống, thuốc thoa và thuốc chích hay nó có thể là một viên kẹo, nước cất, nước muối sinh lý…

Tên gọi Placebo đã có từ xa xưa và đến năm 1785, Placebo đã có tên trong tự điển Y học với nghĩa là "thuốcgâyniềmtin"(make-believemedicine).

Vậy giả dược (placebo) là gì?

Nó là một chất trơ, không có tác dụng chữa bệnh, không gây dị ứng, hoàn toàn vô hại, được mang hình dáng dược phẩm và được thầy thuốc giới thiệu với bệnh nhân là có tác dụng chữa bệnh. thế nhưng lại có tác dụng đặc biệt trên một số bệnh nhân, cả tốt lẫn xấu, gọi chung là hiệu ứng Placebo.

Giả dược khác với thuốc giả, vì thuốc giả là hàng giả, hàng nhái... Giả dược được làm với hình dạng và mùi vị giống hệt thuốc mà nó thay thế để thực nghiệm so sánh. Sự so sánh đối chiếu này giúp đánh giá chính xác hiệu quả của thuốc.

Các nghiên cứu cho thấy Placebo có hiệu ứng đặc biệt với một số người nhạy cảm. Những người này có một trạng thái tâm lý dễ tin, dễ cảm xúc và dễ bị thuyết phục hoặc dễ tự kỷ ám thị. Chuyện không lạ trong Y học. Thí dụ "Hội chứng áo choàng trắng" thường gặp ở một số người được bác sĩ đo huyết áp thì huyết áp tăng vọt. Chỉ cần bước chân vào bệnh viện, thấy nhân viên y tế với chiếc blouse trắng, ống nghe, người quá lo đã tiết ra nhiều chất adrénaline hơn người khác , chất này làm co mạch và huyết áp tăng vọt lên. Ở trẻ con thì có hội chứng "Đau bụng sáng thứ hai" do sợ đi học và cũng thường gặp ở một số thí sinh mắc tiểu hoài khi bước vào phòng thi! Đây là lĩnh vực y khoa tâm - thể (médecine psychosomatique) ngày càng được quan tâm. Nghiên cứu sâu hơn, người ta phân chia ra nhiều týp hành vi của con người. Người thuộc nhóm hành vi này có thể sẽ dễ mắc một số bệnh nào đó mà nhóm khác không mắc.

Trở lại hiệu ứng Placebo, người ta thấy placebo có thể chữa được các "bệnh" như lo âu, căng thẳng, buồn bã, âu sầu, rối nhiễu tâm lý, các chứng đau, nhức đầu, ho, mất ngủ, say sóng, cảm, đau bao tử, nôn ói, cao huyết áp... Người ta ngạc nhiên thấy Placebo cũng gây "tác dụng phụ" (phản ứng thuốc) dù đó chỉ là thuốc vờ không phải thuốc thật như nôn ói, chóng mặt, buồn ngủ hoặc mất ngủ, uể oải,trầm cảm, ảo giác, hồi hợp, tiêu chảy, nổi ban... Thực ra tất cả những hiện tựơng đó đều do một sự tự phản ứng của cơ thể chớ không phải do Placebo. Sợ quá đến nỗi ruột thắt lại, gây tiêu chảy; lo quá đến chóng mặt, trầm cảm, hồi hộp vẫn là chuyện thường thấy.

Lạ lùng là có người "nghiện" Placebo nữa! Mỗi lần đi khám bệnh luôn đòi bác sĩ phải cho đúng thứ thuốc đã quen dùng, đúng bao bì mẫu mã đã quen nhìn!  Khi nghiên cứu mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân, lời nói của bác sĩ cũng tạo nên hiệu ứng placebo. Giải thích cơ chế tác dụng này, người ta cho rằng chính nhờ có mối quan hệ tốt với bác sĩ, người bệnh tự tin hơn ở năng lực khỏi bệnh của mình, hợp tác tốt với bác sĩ, có hành vi sống lành mạnh hơn, nhờ đó mà khỏe ra. Tóm lại, Placebo không chỉ là thuốc mà còn là mối quan hệ, cách truyền thông hiệu quả giữa thầy thúôc và bệnh nhân.

Hiểu về Placebo, ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều thứ quảng cáo "trời ơi", thiếu cơ sở khoa học mà vẫn đựơc nhiều ngừơi tin dùng và truyền tụng như là một thứ thuốc thần, kết quả chỉ làm chậm trễ việc chữa trị và "tiền mất tật mang".

Những cải thiện đạt được khi dùng giả dược là do người bệnh tin rằng thuốc sẽ có hiệu quả tốt với tình trạng của họ, trong cuộc thử nghiệm tiếp theo, khi tiến hành so sánh kết quả giữa bệnh nhân dùng dược phẩm có hỗ trợ thêm giả dược và bệnh nhân chỉ đơn thuần dùng giả dược, người ta khám phá ra rằng ở một số đối tượng, giả dược thật sự giúp nâng cao hiệu quả của dược phẩm đang sử dụng. Được biết, trong một cuộc nghiên cứu kéo dài trong 6 tháng về cách chữa trị chứng trầm cảm, một loại thảo dược đã có tác dụng làm giảm 24% các ca bệnh trầm cảm mức độ vừa, so với con số 25% của một loại thuốc chống trầm cảm khác. Tuy nhiên, kết quả lại nghiêng về giả dược, tạo nên sự cải thiện tình trạng cho khoảng 32% đối tượng.

Những khám phá về tác động của giả dược trong những năm qua làm người ta hy vọng về những cơ chế và cách khai thác tác động của giả dược trong đời sống. Vấn đề hiện nay là làm sao để tận dụng hiệu quả của giả dược và sử dụng nó nhằm phục vụ sức khỏe con người. Nhiều ý kiến đồng tình rằng, mối quan hệ giữa bệnh nhân và bác sĩ là mấu chốt cơ bản để góp phần chữa trị hiệu quả hơn qua các cuộc tiếp xúc với bệnh nhân lâu hơn và thái độ quan tâm của bác sĩ với bệnh nhân trên giường bệnh. Ngoài ra, một số điều giúp khởi động sự tương tác với giả dược gồm có yếu tố các bác sĩ biết lắng gnhe bệnh nhân hay không? Bệnh nhân có ra về trong trạng thái nhẹ nhõm khi đã dốc cạn mối lo lắng của mình với bác sĩ? Hoặc bác sĩ đã tỏ thái độ chân thành và tận tâm trong điều trị bệnh hay chưa?

Hiệu ứng 'làm vui lòng' trong chữa bệnh:

Trong cuốn sách “Nơi không có thầy thuốc” bác sĩ David Werner kể: "Có lần tôi thấy một bệnh nhân nhức đầu dữ dội. Một phụ nữ đưa cho anh ta miếng khoai mài và bảo rằng đây là thuốc giảm đau rất mạnh. Anh ta tin lời, đã ăn nó và kết quả là khỏi đau nhanh chóng”.

Theo bác sĩ Werner, trong trường hợp trên, yếu tố tâm lý của người bệnh đã được tác động để phát huy khả năng điều chỉnh của nó. Khi bệnh nhân được cho dùng một chất không phải là thuốc nhưng tin tưởng tuyệt đối đó là thuốc thật thì có thể giảm bệnh. Đó là hiệu ứng Placebo, có nghĩa là “tôi làm vui lòng” (bác sĩ sẽ tác động đến yếu tố tâm lý của người bệnh, tạo cho họ sự phấn khởi, tin tưởng để mau hết bệnh). Giải thích về bệnh tật một cách rõ ràng cũng có lợi cho tâm lý bệnh nhân.

Trong quá trình điều trị bệnh, thầy thuốc thường khai thác tối đa yếu tố tâm lý để giúp quá trình bệnh diễn tiến tốt. Bác sĩ có mối quan hệ tốt với bệnh nhân, cung cách khám chữa bệnh đúng mực, nói năng nhẹ nhàng, thân tình, giải thích rõ ràng cặn kẽ... sẽ giúp việc điều trị đạt kết quả nhanh và tốt hơn. Đã có một số phương thức điều trị không dùng thuốc mà dựa hẳn vào yếu tố tâm lý như thôi miên, tự kỷ ám thị, thiền định... nhằm ổn định tâm lý.

Nếu stress đã được chứng minh là có thể làm giảm sức đề kháng của cơ thể thì ngược lại, những biện pháp làm ổn định tâm lý, sảng khoái về mặt tinh thần sẽ giúp nâng cao sức đề kháng của cơ thể, chống lại bệnh tật. Các rối loạn liên quan đến triệu chứng cơ năng (như bệnh suy nhược thần kinh) rất dễ chữa khỏi bằng cách tác động đến yếu tố tâm lý.

Tuy nhiên, chúng ta nên xem chữa bệnh bằng yếu tố tâm lý chỉ là biện pháp hỗ trợ, chứ không thể thay thế cho tất cả các phương thức trị liệu của nền y học chính thống. Trong quá trình điều trị, bác sĩ có thể cho một thứ thuốc để khai thác hiệu năng placebo. Thí dụ, một số bệnh nhân không cần thuốc nhưng lại có ý nghĩ là có bệnh thì phải dùng thuốc; bác sĩ có thể cho dùng vitamin để khai thác tác dụng tích cực của yếu tố tâm lý. Thuốc trong trường hợp này là chất không có tác dụng chữa bệnh thực sự, được gọi là placebo (giả dược, thuốc vờ). Các dược sĩ cũng có thể tác động đến yếu tố tâm lý của bệnh nhân. Những hướng dẫn tận tình của dược sĩ về cách dùng thuốc có thể tạo niềm tin cho người bệnh vào tác dụng của thuốc. Còn ở các hãng sản xuất dược phẩm, dược sĩ không chỉ quan tâm đến vấn đề bảo đảm chất lượng thuốc mà còn chú ý hoàn thiện những chi tiết có thể tác động đến tâm lý người dùng: bao bì trình bày đẹp mắt, sáng sủa, dạng thuốc bào chế tiện sử dụng, bảo quản được lâu...

Hiệu ứng giả dược trong y học nó là công cụ thay thế hay chữa bệnh bằng tác động “ảo”, “đánh lừa” con người, nghĩa là không hề chữa trị thực sự về mặt lâm sàng nhưng lại được bác sĩ kê đơn dưới danh nghĩa thuốc hay trị liệu tương ứng. Lịch sử xoay quanh đề tài này quả là mới mẻ và đầy thú vị, “vô bổ” nhưng thực tế lại rất hữu ích trong một số trường hợp dưới đây.

Hiệu ứng giả dược "thống trị" trong ngành y

Hiệu ứng giả dược đã từng tồn tại hàng trăm năm nay. Sở dĩ hiệu ứng giả dược còn chỗ đứng là vì nó mang tính xã hội, con người đặt niềm tin quá lớn vào các chuyên gia y tế. Điều này cũng dễ hiểu, khi các công nghệ y học ra đời, tỷ lệ tử vong, số người mắc bệnh giảm hẳn thì hiệu ứng giả dược lại càng được củng cố và trở nên có uy tín hơn. Cũng phải nói thêm rằng, từ xa xưa mỗi khi ốm đau người ta lại đến khám bác sĩ, kê đơn, dùng thuốc và chỉ cần những niềm tin này người ta cũng đủ chữa bệnh, còn thực tế ra sao thì họ lại ít quan tâm, thậm chí có những loại thuốc "lợi bất cập hại" nhiều hơn là trị bệnh, song người bệnh vẫn tin dùng và khoa học càng phát triển thì hiệu ứng giả dược lại càng có thêm uy lực.

Phẫu thuật giả dược

Phẫu thuật giả dược hay phẫu thuật vờ đôi khi cũng chữa được bệnh bởi con người có niềm tin quá lớn, cho rằng bệnh của họ nhất thiết phải phẫu thuật mới khỏi. Để thỏa lòng mong muốn và cũng là cách chữa bệnh, bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật nhưng kỳ thực chẳng can thiệp gì cả, chẳng nối xương hay gỡ bỏ xương hỏng mà đơn giản chỉ là thủ tục vờ và một thời gian sau người bệnh cảm thấy không còn bệnh. Điều này cho thấy những ca phẫu thuật vờ cũng phát huy tác dụng không kém gì những ca phẫu thuật phức tạp.

Những viên thuốc màu

Những viên thuốc có màu hay những viên giả dược được nhuộm màu không khác gì những viên thuốc thật về hình thức bên ngoài, nhưng thành phần thì "vô bổ". Với màu sắc "giả như thật" đã đánh lừa nhận thức của con người và cuối cùng phát huy tác dụng. Ví dụ, những viên thuốc dùng chữa trầm cảm có thể là những viên giả dược nhưng nó lại phát huy tác dụng cao nhất, trong đó những viên có màu đỏ dễ làm cho bệnh nhân nghi ngờ, những viên màu xanh lại giảm sự "băn khoăn". Đặc biệt, những viên màu trắng lại phát huy tác dụng cao nhất ở nhóm người mắc bệnh dạ dày. Theo nghiên cứu thì tần suất dùng nhiều lần trong ngày tốt hơn so với dùng ít lần. Ví dụ, dùng 4 lần tốt hơn 2 lần vì nó củng cố niềm tin của con người nên nhanh bình phục. Ngoài ra, yếu tố nhãn mác cũng góp phần quan trọng, càng nổi tiếng thì bệnh càng chóng khỏi cho dù là giả dược, ngược lại nếu nghiền nhỏ hoặc không nhãn mác dễ bị nghi ngờ, hiệu quả kém hơn.

clip_image002

Những viên thuốc màu thường có tác dụng đánh lừa người sử dung.

Trị bệnh nhiễm khuẩn

Theo nhiều nghiên cứu thì hiệu ứng giả dược còn vượt quá khả năng mong đợi của con người, trong đó có các tác dụng điều trị bệnh viêm nhiễm. Một nhóm người mắc bệnh hen bởi giun móc được chia làm 2 tốp, một bị nhiễm giun móc thực sự, nhóm còn lại được xem là nhiễm giun móc trong "ý nghĩ". Kết quả sau khi dùng giả dược, nhóm bị nhiễm giun móc thật lại giảm được các triệu chứng do bệnh gây ra và nhóm hai cũng giảm bệnh nhưng kết quả không bằng nhóm một. Như vậy, giả dược đã phát huy được tác dụng trị được cả bệnh viêm nhiễm do ký sinh trùng gây ra.

Nhiều người cho rằng, khi đã biết giả dược thì hiệu ứng giả dược không còn tác dụng, song điều này lại trái ngược với giả thiết nói trên. Bằng chứng là nhiều nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân được cấp giả dược, và bác sĩ cũng cho họ biết điều này, nhưng theo một số bệnh nhân thì nó không có tác dụng ngay mà lại phát huy tác dụng vào "cuối tuần" và như vậy rất nhiều người "nghiện", mong tiếp tục được kê đơn dùng giả dược. Ví dụ, những viên thuốc chỉ có chứa đường nhưng nhiều người lại thích dùng nó hơn là thuốc thật.

Giả dược trị bệnh trầm cảm

Về cơ bản, thuốc trị bệnh trầm cảm thường là giả dược, bởi đây là căn bệnh chứa đựng nhiều bí ẩn đến nay hoa học chưa hiểu hết, và nó lại liên quan đến những loại hóa chất có trong não Vởi vậy những năm gần đây, người ta thường dùng giả dược để điều trị căn bệnh này và nó có tác dụng không kém gì thuốc thật, trong khi đó tác dụng phụ lại rất thấp so với dùng thuốc thật. Hiện tượng này có thể làm giảm hàng tỷ đôla doanh thu cho các hãng sản xuất và kinh doanh thuốc trầm cảm, nhưng đây lại là thông tin tốt lành cho người bệnh bởi nó mang lại nhiều cái lợi, giảm được hiện tượng tích độc trong cơ thể, nhất là trong não và làm cho bệnh

Nói chung, kiến thức về giả dược giúp tìm ra một số giải pháp cho con người. Một là bác sĩ có thể vận dụng theo từng đợt tuần hoàn nhằm thay thế một loại dược phẩm mà bệnh nhân buộc phải sử dụng trong khoảng thời gian dài bằng một loại giả dược khác hầu tránh phản ứng phụ có thể xảy ra. Tương tự, nếu có thể nâng cao tác dụng của dược phẩm theo cách nâng tầm quan trọng của việc sử dụng, thì có thể bệnh nhân sẽ được bác sĩ kê toa một loại dược phẩm kém độc hại hơn.

Nguồn: http://www.dohongngoc.com/web/tag/placebo/